Gia đình Karen
Karen đã trải qua một cuộc chiến pháp lý đau đớn để đảm bảo mối quan hệ cha mẹ của cô với các con mình - tất cả chỉ vì luật pháp Massachusetts không đảm bảo rõ ràng quyền làm cha mẹ của cô.
Karen và người bạn đời cũ Julie sống chung ở Florida khi họ quyết định sinh con chung bằng công nghệ hỗ trợ sinh sản. Khi Julie mang thai, cả hai bên gia đình đều vui mừng khôn xiết. Karen đã có mặt trong phòng sinh khi "Jo" chào đời năm 2008 và khi "Ja" chào đời năm 2012. Cô trở thành "Mẹ", còn Julie trở thành "Mẹ". Karen đã tắm cho mỗi đứa trẻ lần đầu tiên và chăm sóc chúng chu đáo theo mọi cách.
Ở Florida, Karen, với tư cách là cha mẹ không phải ruột thịt, không được nhận con nuôi trong những năm đầu đời của các con. Cuối cùng, cặp đôi chuyển về Massachusetts cùng các con. Sau 13 năm bên nhau, bao gồm cả những năm tháng cùng nhau chăm sóc con cái với những bữa ăn đêm, những lần khám sức khỏe định kỳ, những kỳ nghỉ và những buổi họp mặt gia đình, cặp đôi đã chia tay.
Karen muốn nhận nuôi hai con để đảm bảo cho chúng sự ổn định và lâu dài. "Tôi lớn lên trong một gia đình đông con, và cảm giác gia đình đó chính là điều tôi mong muốn cho các con mình", Karen chia sẻ. Cô cũng muốn các con được hưởng sự bảo vệ pháp lý như những đứa trẻ khác.
Nhưng Julie từ chối và cấm Karen tham gia bất kỳ lịch trình cố định nào để cùng chia sẻ quyền nuôi con. Karen đã nộp đơn khiếu nại pháp lý để xin trở thành cha mẹ "trên thực tế" và đơn khiếu nại thứ hai để xin trở thành cha mẹ hợp pháp. Cuối cùng, Karen đã thắng kiện và được xác định là cha mẹ hợp pháp của các con.
Hiện tại, Karen đang sống cùng bạn đời Lisa, và các con sống với họ 50% thời gian. Vượt qua nỗi đau của Tòa án Gia đình, Karen, Julie và Lisa cùng nhau nỗ lực để đảm bảo Jo và Ja có mọi thứ họ cần trong khuôn khổ thời gian nuôi dạy con chung. Karen và Julie cùng nhau tham dự các buổi họp phụ huynh/giáo viên, cùng nhau đứng ngoài sân cỏ tại các sự kiện thể thao, thay phiên nhau chăm sóc con cái để đảm bảo lợi ích cho các con, và thậm chí còn dành thời gian ở nhà nhau mỗi khi các con có điều gì đó muốn chia sẻ.
Nếu quyền làm cha mẹ hợp pháp của Karen được thiết lập ngay từ khi bọn trẻ chào đời, thì những năm tháng đau khổ ở tòa án gia đình đã không cần thiết. Bọn trẻ sẽ không phải lo lắng suốt ba năm về việc liệu chúng có bao giờ được gặp lại mẹ hay không. Hàng ngàn đô la tòa án có thể được tiết kiệm cho việc học đại học của bọn trẻ thay vì phải chi trả cho các khoản phí luật sư.
“Vì tôi chưa kết hôn và chưa nhận con nuôi, nên luật pháp quy định tôi là người lạ hợp pháp”, Karen nói. “Con đường trở thành cha mẹ hợp pháp trọn vẹn rất gian nan. Cha mẹ và con cái không nên phải trải qua điều đó. Đặc biệt, trẻ em không nên phải chịu đựng bất kỳ sự bất định nào về việc cha mẹ mình là ai. Quyền bình đẳng và an toàn cho trẻ em nên được ghi nhận trong luật pháp Massachusetts.”
Tìm hiểu thêm và giúp thông qua Đạo luật về quyền làm cha mẹ của Massachusetts
